Về xuất khẩu

Trong 6 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến Trung Quốc đạt 25,9 tỷ USD, giảm 0,96% so với cùng kỳ năm 2022 (mức 26,2 tỷ USD). Các mặt hàng giảm mạnh bao gồm: xơ sợi dệt các loại: đạt 1 tỷ USD, giảm 20,7% so với cùng kỳ năm 2022 và cũng giảm 13,7% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: đạt 1,3 tỷ USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm 2022 nhưng tăng 34,1% so với mức trung bình giai đoạn 2019-2023; gỗ và sản phẩm gỗ: đạt 706,6 triệu USD, giảm 25,6% so với cùng kỳ năm 2022 và giảm 4% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023; hàng dệt may: đạt 484,8 triệu USD, giảm 10,2% so với cùng kỳ năm 2022 và giảm 20,1% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023, cao su: đạt 778,9 triệu USD, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm 2022 nhưng tăng 17,6% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023; hàng thủy sản: đạt 634,4 triệu USD, giảm 22,9% so với cùng kỳ năm 2022 nhưng tăng 14,3% so với giai đoạn 2019-2023; sắn và các sản phẩm từ sắn: đạt 522,9 triệu USD, giảm 23,9% so với cùng kỳ năm 2022 và giảm 0,1% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023.

 

Nhập khẩu

 

Trong 6 tháng đầu năm 2023, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 49,6 tỷ USD, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm 2022. Trong nhập khẩu từ các đối tác chính của Việt Nam, đây là mức giảm nhập khẩu lớn thứ 2, chỉ sau Hàn Quốc (giảm 25,7%); nhập khẩu từ các đối tác Đông Nam Á giảm 17,9%, từ Hoa Kỳ giảm 9,1%; Nhật Bản giảm 15,4%, EU giảm 9,6%.

 Các mặt hàng nhập khẩu giảm chính: Máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: đạt 10,2 tỷ USD, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm 2022; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: đạt 10 tỷ USD, giảm 20,2%; vải các loại: đạt 4,1 tỷ USD, giảm 20,3% so với cùng kỳ năm 2022 và cũng giảm 3% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023; điện thoại các loại và linh kiện: đạt 3 tỷ USD, giảm 30,6% so với cùng kỳ năm 2022 và giảm 20,7% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023; sản phẩm từ chất dẻo: đạt 1,9 tỷ USD, giảm 19,1% so với cùng kỳ năm 2022; sắt thép các loại: đạt 2,3 tỷ USD, giảm 23,6%, nguyên phụ liệu dệt may, da giày: đạt 1,5 tỷ USD, giảm 21,8%; chất dẻo nguyên liệu đạt 1 tỷ USD, giảm 26,4%; kim loại thường khác: đạt 1,1 tỷ USD, giảm 15,7%; xơ, sợi dệt các loại: đạt 0,6 tỷ USD; giảm 23,7% so với cùng kỳ năm 2022 và giảm 6,8% so với mức trung bình của giai đoạn 2019-2023.